Kinh tế học : Gary Becker và ứng dụng tính duy lý

Gary Becker là một trong số những nhà kinh tế có nhiều sáng tạo nhất trong giai đoạn cuối thế kỷ XX. Cách tiếp cận độc đáo của ông liên quan đến việc chấp nhận giả thiết về tính duy lý trong kinh tế học và áp dụng nó vào rất nhiều vấn đề xã hội mà trước đó chưa được kinh tế học nghiên cứu tới. Cách tiếp cận này đã gây dựng nên nhiều chuyên ngành mới trong kinh tế học, như kinh tế học tội phạm và hình phạt, kinh tế học về nghiện hút, kinh tế học gia đỉnh, lý thuyết về tư bản con người, và kinh tế học về phân biệt đối xử.

kinh te hoc la gi, kinh te thi truong, nen kinh te hon hop, muc tieu kinh te vi mo, vai tro cua nong nghiep trong nen kinh te, chi phi co hoi la gi, chi phí cơ hội là gì, chi phí cơ hội khi học đại học, cách tính lạm phát theo ppi, cach tinh gdp, cpi la gi, tang truong kinh te la gi, anh huong cua lam phat den doi song, bop la gi trong kinh te, cach tinh chi so hdi, mo hinh keynes, nguyen tac than trong, asean la gi, tai san ngan han la gi, cach hoc tieng anh hieu qua, cách luyện nghe tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh cho người mới bắt đầu, cach hoi thoi gian trong tieng anh, download tu dien kinh te ky thuat Prodic mien phi, cach sap xep thoi gian, binh dinh co dac san giGary Becker sinh năm 1930 tại Pottsville, Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. Cha ông là một chủ kinh doanh nhỏ. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông vào trường Đại học Princeton, tại đó ông nhận bằng cử nhân về kinh tế học. Ông không hài lòng về chương trình đào tạo kinh tế tại Princeton vì “nó dường như không giải quyết những vấn đề thực tế” (Niên giám tiểu sử đương đại, 1993). Sau đó, ông học sau đại học về kinh tế học tại Đại học Chicago, dưới sự dìu dắt của Milton Friedman. Gary Becker nhận bằng thạc sĩ năm 1953 và tiến sĩ năm 1955 tại Đại học Chicago. Luận văn tiến sĩ của ông (Becker, 1957) về kinh tế học phân biệt đối xử là do Friedman hướng dẫn và sau này được Ủy ban giải thưởng Nobel đánh giá là một đóng góp đặc biệt quan trọng trong kinh tế học.

Gary Becker dạy tại trường Đại học Chicago từ năm 1954 đến 1957 và sau đó đảm nhận một vị trí tại Đại học Columbia. Vào năm 1969, ông quay trở lại Chicago với tư cách là giáo sư kinh tế học và xã hội học. Kể từ năm 1985, ông thường xuyên viết bài về kinh tế cho tạp chí Business Week, giải thích cách phân tích và các ý tưởng kinh tế cho công chúng. Vào năm 1992, ông được trao giải thưởng Nobel về Khoa học Kinh tế.
Gary Becker có 2 đóng góp quan trọng trong kinh tế học. Thứ nhất, ông vận dụng giả thuyết về tính duy lý của con người và áp dụng vào tất cả các dạng hành vi, bao gồm cả những vấn đề không mang tính kinh tế, hay không liên quan đến giao dịch thị trường giữa các cá nhân. Bắt đầu với giả thiết cho rằng con người hành động một cách duy lý và cố gắng tối đa hóa lợi ích, Gary Becker phân tích những quyết định về mức sinh, hôn nhân, ly dị (Becker, 1973, 1974, 1977), tội phạm và hình phạt (Becker, 1968) và nghiện ngập (1988, 1991, 1992). Thứ hai, Gary Becker đã có công trong việc giải thích cách vận hành thị trường lao động. Ông góp phần phát triển khái niệm tư bản con người (Becker, 1964) và giúp các nhà kinh tế học hiểu biết hơn về sự phân biệt đối xử trong thị trường lao động (Becker, 1957).


Gary Becker phân tích quyết định hôn nhân và quan hệ gia đình theo phương pháp phân tích truyền thống về hành vi của hãng kinh doanh. Các cá nhân dành thời gian để tìm kiếm bạn đời, người mang lại cho họ mức thỏa dụng cao nhất, giống như các hãng tìm các nhân viên tốt nhất có thể. Cuộc tìm kiếm càng kéo dài thì sẽ càng có nhiều thông tin hơn về người nào là bạn đời xứng đáng nhất. Cuối cùng, lý thuyết này dự đoán rằng những người cưới sớm sẽ có khả năng dễ ly dị hơn, một dự đoán nhận được ủng hộ khá mạnh mẽ từ số liệu thống kê. Lý thuyết này cũng dự đoán rằng những thất vọng về kỳ vọng, và thay đổi trong kỳ vọng, sẽ dẫn tới tình trạng ly dị. Và giống như một hãng muốn tối đai hóa lợi nhuận, một gia đình có thể tối đa hóa lợi ích thông qua sự chuyên môn hóa; do vậy người chồng thường chuyên môn hóa vào công việc trên thị trường và người vợ thì tập trung vào công việc gia đình. Một kết quả của việc chuyên môn hóa đó là người phụ nữa sẽ nhận được mức lương thị trường thấp hơn. Theo Gary Becker thì điều này không phải do sự phân biệt đối xử mà do quyết định giữa các thành viên trong gia đình về việc ai làm công việc nào.


Tính duy lý tiếp tục được Gary Becker vận dụng trong kinh tế học tội phạm và hình phạt, nghiện thuốc phiện và rượu.


Gary Becker cho rằng việc thích phân biệt đối xử là một biểu hiện của khẩu vị hay ý thích của người chủ, giống hệt như việc muốn ăn ngũ cốc hiệu Grape Nuts vào bữa sáng hàng ngày chỉ là kết quả của khẩu vị hay sự ưa thích mà thôi. Hơn thế nữa, Gary Becker (1993) cho rằng phân biệt đối xử phụ thuộc nhiều vào thị hiếu và quan điểm của người tiêu dùng và người lao động hơn là quan điểm và niềm tin của người chủ. Người tiêu dùng có thể không muốn giao dịch với người bán hàng thuộc nhóm người thiểu số; và những người lao động có thể không muốn làm việc cùng với phụ nữ hoặc người da đen. Trong trường hợp như vậy thì các hãng sẽ có xu hướng không thuê lao động nữ hoặc người da đen có tay nghề; vì điều đó làm giảm năng suất bán hàng hoặc lao động và do đó gây ra chi phí đối với hãng.

Gary Becker lưu ý rằng phân biệt đối xử làm cho người chủ phải chịu chi phí. Nếu một người chủ có thể thuê lao động nữ hoặc da đen, nhưng lại muốn phân biệt đối xử với những người này, khi đó người chủ sẽ phải trả giá cho sở thích này. Cái giá phải trả là chênh lệch lương giữa lao động nam da trắng và lao động nữ hoặc thiểu số không được thuê. Điều này có nghĩa là trong thị trường cạnh tranh, phân biệt đối xử sẽ ít có khả năng xảy ra vì các hãng phân biệt đối xử sẽ phải chịu chi phí cao hơn, còn các hãng không phân biệt đối xử sẽ chịu chi phí thấp hơn. Các hãng không phân biệt đối xử sẽ có xu hướng đẩy các hãng phân biệt đối xử ra khỏi ngành. Những giả thuyết này về phân biệt đối xử là chủ đề của nhiều chỉ trích và tranh luận.


Gary Becker đã mở rộng phạm vi phân tích kinh tế bằng cách coi mọi sự lựa chọn cá nhân đều được thực hiện một cách duy lý. Do vậy Gary Becker là nhà kinh tế tiên phong trong các nghiên cứu về phân biệt đối xử, tội phạm, giáo dục và hôn nhân. Mỗi lần ông mạo hiểm vượt ra ngoài phạm vi của kinh tế học truyền thống, ông đều thu được những kết quả thú vị và độc đáo, với những dự đoán rõ ràng và có thể kiểm định được. 

 
Điều quan trọng hơn nữa là cách tiếp cận của ông đã mở ra những hướng nghiên cứu và phương pháp mới trong việc xem xét các hoạt động phi thị trường của con người. Vì những lý do này, Gary Becker trở thành nhà kinh tế có sức sáng tạo mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn nhất cuối thế kỉ XX. Ảnh hưởng đó có thể được đo bằng số lần trích dẫn rất lớn từ các tác phẩm của ông. Medoff (1989) xếp Gary Becker vào vị trí hàng đầu trong số các nhà kinh tế học dưới tuổi 65, dựa trên tổng số lần các tác phẩm của ông được trích dẫn, theo số liệu thống kê từ sách Chỉ dẫn trích dẫn khoa học xã hội.

Theo Steven Pressman. 1999. 50 nhà kinh tế tiêu biểu. Routledge. Bản dịch tiếng Việt. Nhà Xuất Bản Lao Động. 2003.


Kinh tế học : Gary Becker và ứng dụng tính duy lý

Để hoàn thành chương trình 4 năm đại học, chỉ cần 6 tháng!

Tập trung và liên tục, bạn hoàn toàn cải thiện được thành tích của mình, ngay cả khi bạn thuộc loại đứng cuối lớp. Đúng vậy, giáo sư Simon, từng đạt giải thưởng Nobel Kinh tế học, phát biểu:

“Đối với một người có cơ sở nhất định để nói, chỉ cần họ thật sự dám bỏ ra công sức và thời gian trong vòng 6 tháng thì có thể nắm được bất kỳ một môn học vấn nào”.

Theo Zeng Hua (*), giáo sư Simon lập luận: Một người trong 1ph đến 1ph rưỡi có thể ghi nhớ được 1 thông tin, tâm lý học gọi 1 thông tin như thế là “mảng”. Ước tính lượng thông tin mỗi môn học chứa khoảng 50.000 mảng, nghĩa là cần khoảng 1000 giờ, lấy mỗi tuần lễ học 40 giờ để tính, muốn nắm 1 môn học vấn ước cần dùng 6 tháng.

Trên cơ sở đó, Zeng Hua lấy khoa hóa học chế độ học 4 năm của một đại học làm ví dụ. Năm thứ nhất mỗi tuần học 46 tiết, trong đó bài thuốc chuyên ngành hóa 10 tiết, các khóa trình khác 16 tiết. Trong 20 tiết bài tự học, chỉ có 4 tiết chuyên ngành hóa tự học. Cho nên chuyên ngành hóa tất cả có 14 tiết học, tổng cộng 11,66 giờ. Mỗi tuần học bài chuyên ngành không đến 12 giờ, mỗi ngày bình quân không đến 2 giờ. Một năm 365 ngày trừ đi 50 ngày chủ nhật, nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ lễ, ngày nghỉ khác, hoạt động xã hội,… quá lắm không đến 240 ngày.
Như vậy nếu học theo giáo sư kinh tế học của chúng ta, mỗi ngày học 10h, chỉ cần dùng 50 ngày đã có thể học xong chương trình học của một năm đại học. Nghĩa là hoàn thành chương trình đại học (4 năm) chỉ cần dùng 200 ngày.

kinh te hoc la gi, kinh te thi truong, nen kinh te hon hop, muc tieu kinh te vi mo, vai tro cua nong nghiep trong nen kinh te, chi phi co hoi la gi, chi phí cơ hội là gì, chi phí cơ hội khi học đại học, cách tính lạm phát theo ppi, cach tinh gdp, cpi la gi, tang truong kinh te la gi, anh huong cua lam phat den doi song, bop la gi trong kinh te, cach tinh chi so hdi, mo hinh keynes, nguyen tac than trong, asean la gi, tai san ngan han la gi, cach hoc tieng anh hieu qua, cách luyện nghe tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh cho người mới bắt đầu, cach hoi thoi gian trong tieng anh, cach sap xep thoi gian, binh dinh co dac san gi

Bạn là một sinh viên chuyên ngành kinh tế học hay một ngành khác? Bạn nghi ngờ những điều trên? Tốt lắm, hãy để điện thoại chế độ rung và giảm đi chơi lại, chăm chỉ đem sách vở cần học ra đi nào!

(*) Zeng Hua, Tự đột phá mình – Bí quyết tư duy của những người thành đạt. Bản dịch tiếng Việt. Nhà xuất bản Hà Nội. 2004.
Để hoàn thành chương trình 4 năm đại học, chỉ cần 6 tháng!

5 cách giúp sinh viên dễ dàng tiết kiệm mỗi ngày

Tiền bạc luôn là một chủ đề được bàn luận nhiều trong các buổi trò chuyện của sinh viên. Để không vay mượn thì bạn phải kiếm một công việc làm thêm hoặc nên tiết kiệm đi một chút!

kinh te hoc la gi, kinh te thi truong, nen kinh te hon hop, muc tieu kinh te vi mo, vai tro cua nong nghiep trong nen kinh te, chi phi co hoi la gi, chi phí cơ hội là gì, chi phí cơ hội khi học đại học, cách tính lạm phát theo ppi, cach tinh gdp, cpi la gi, tang truong kinh te la gi, anh huong cua lam phat den doi song, bop la gi trong kinh te, cach tinh chi so hdi, mo hinh keynes, nguyen tac than trong, asean la gi, tai san ngan han la gi, cach hoc tieng anh hieu qua, cách luyện nghe tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh cho người mới bắt đầu, cach hoi thoi gian trong tieng anh, download tu dien kinh te ky thuat Prodic mien phi, cach sap xep thoi gian, binh dinh co dac san gi

Theo Kelci Lynn Lucier, 5 cách sau sẽ giúp bạn dễ dàng tiết kiệm mỗi ngày:
  1. Giảm ăn vặt
    Nếu cắt 3 bữa ăn còn 2 thì bạn sẽ tiết kiệm được một khoản lớn đấy! Tôi không khuyến khích điều này vì không những làm giảm năng suất học tập của bạn mà (đến một lúc nào đó) bạn còn phải tốn nhiều hơn để bù lại phần thức ăn đã bị thiếu.
  2. Tự pha café thay cho việc mua
    Bạn sẽ ngạc nhiên với khoản tiền bạn tiết kiệm được với cách này.
  3. Mua sách cũ
    Hoặc mượn từ các anh chị khóa trước. Hãy đến phòng đoàn ở khoa bạn đang học và hỏi về chương trình đổi một quyển sách cũ này để lấy một quyển sách cũ khác.
  4. Dùng giáo trình online
    Như trang download.nghiencuukinhtehoc.com. Sinh viên của tôi thường ghé lấy bài giảng của tôi và các giảng viên khác. Tất cả đều miễn phí.
  5. Sử dụng vật liệu tái tạo
     Chẳng hạn giấy tập của học kỳ trước.
    Xin cho tôi biết ý kiến của bạn ở phần bình luận bên dưới!

    5 cách giúp sinh viên dễ dàng tiết kiệm mỗi ngày

    Kinh tế học : Khoản rò rỉ là gì?

    Tiền thúc đẩy hàng hóa và dịch vụ được mua bán.
    Khoản rò rỉ (a leakage) là số tiền từ thu nhập (không được tiêu dùng mà) biến khỏi nền kinh tế, bao gồm: tiết kiệm, thuế, nhập khẩu. Khoản rò rỉ có thể quay trở lại nền kinh tế dưới dạng khoản bơm vào.

    kinh te hoc la gi, kinh te thi truong, nen kinh te hon hop, muc tieu kinh te vi mo, vai tro cua nong nghiep trong nen kinh te, chi phi co hoi la gi, chi phí cơ hội là gì, chi phí cơ hội khi học đại học, cách tính lạm phát theo ppi, cach tinh gdp, cpi la gi, tang truong kinh te la gi, anh huong cua lam phat den doi song, bop la gi trong kinh te, cach tinh chi so hdi, mo hinh keynes, nguyen tac than trong, asean la gi, tai san ngan han la gi, cach hoc tieng anh hieu qua, cách luyện nghe tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh hiệu quả, cách học tiếng anh cho người mới bắt đầu, cach hoi thoi gian trong tieng anh, cach sap xep thoi gian, binh dinh co dac san gi

    Kinh tế học : Khoản rò rỉ là gì?